Lãi suất ngân hàng hôm nay 10/4/2026: Loạt ngân hàng tiên phong giảm lãi suất
Lãi suất ngân hàng hôm nay 10/4/2026 ghi nhận các ngân hàng thương mại khối tư nhân dẫn đầu việc thực hiện giảm lãi suất huy động.
Ngân hàng đầu tiên giảm lãi suất
Tại cuộc họp giữa Ngân hàng Nhà nước với các ngân hàng thương mại vào chiều 9/4, lãnh đạo các ngân hàng thương mại đồng thuận cam kết giảm lãi suất huy động và cho vay.
Theo khảo sát của VietNamNet đối với lãi suất huy động tại các ngân hàng vào đầu giờ sáng 10/4, Ngân hàng TMCP Việt Nam Thịnh Vượng (VPBank) và Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (SeABank) là những ngân hàng đầu tiên thực hiện giảm lãi suất sau cam kết trên.
Theo biểu lãi suất huy động trực tuyến vừa được VPBank cập nhật, lãi suất ngân hàng kỳ hạn 1-5 tháng vẫn đang được niêm yết ở mức tối đa 4,75%/năm theo quy định đối với lãi suất tiền gửi có kỳ hạn dưới 6 tháng.
Tuy nhiên, VPBank đã thực hiện giảm lãi suất huy động các kỳ hạn từ 6-36 tháng với mức giảm đồng loạt từ 0,3-0,5%/năm.
Cụ thể, lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6-9 tháng giảm 0,5%/năm xuống còn 6,1%/năm; kỳ hạn 10-24 tháng giảm 0,3%/năm xuống còn 6,3%/năm; trong khi lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 36 tháng giảm 0,5%/năm xuống còn 5,6%/năm kể từ hôm nay.

Tại SeABank, theo biểu lãi suất tiền gửi trực tuyến vừa được cập nhật trên ứng dụng SeAMobile, lãi suất ngân hàng kỳ hạn 6-36 tháng giảm từ 0,2-0,3%/năm, trong khi lãi suất ngân hàng các kỳ hạn 1-5 tháng không thay đổi.
Cụ thể, lãi suất kỳ hạn 1-2 tháng đang là 3,95%/năm, kỳ hạn 3-5 tháng 4,45%/năm.
SeABank giảm lãi suất tiết kiệm kỳ hạn 6 tháng xuống còn 5,15%/năm, kỳ hạn 7 tháng giảm xuống 5,25%/năm, kỳ hạn 8 tháng 5,3%/năm, kỳ hạn 9 tháng 5,35%/năm, kỳ hạn 10 tháng 5,4%/năm, kỳ hạn 11 tháng 5,45%/năm, kỳ hạn 12 tháng 5,5%/năm, kỳ hạn 15 tháng 5,75%/năm.
Lãi suất huy động cao nhất theo niêm yết của SeABank là 5,95%/năm, áp dụng cho kỳ hạn 18-36 tháng, giảm 0,3%/năm so với mức cũ.
Tuy nhiên ngân hàng này vẫn đang áp dụng chính sách cộng thêm lãi suất 0,2%/năm cho khách hàng có tiền gửi kỳ hạn 6, 12, 13 tháng với số tiền gửi từ 100 triệu đồng trở lên.
Trước đó, ngày 9/4 Vietcombank và BVBank là hai ngân hàng mới nhất tăng lãi suất huy động.
Trong đó, BVBank tăng lãi suất 0,2%/năm với các kỳ hạn tiền gửi từ 6-15 tháng lên 7%/năm, qua đó đồng nhất với mức lãi suất huy động của các kỳ hạn 18-36 tháng. Trong khi đó, lãi suất kỳ hạn 1-5 tháng tại nhà băng này trước đó cũng đã niêm yết tại mức lãi suất tối đa 4,75%/năm.
Với Vietcombank, lãi suất huy động trực tuyến kỳ hạn 1-5 tháng bất ngờ tăng lên mức trần 4,75%/năm.
Đáng chú ý, lãi suất ngân hàng kỳ hạn 6-11 tháng tăng mạnh 1,1%/năm lên 6,6%/năm, kỳ hạn 12-24 tháng tăng 0,6%/năm lên 6,5%/năm.
Như vậy, lãi suất ngân hàng Vietcombank đã ngang bằng với lãi suất niêm yết tại VietinBank và BIDV, trong khi lãi suất theo niêm yết tại Agribank đang là 7%/năm kỳ hạn 6-24 tháng, cao nhất trong nhóm Big4 hiện nay.

Điểm khác biệt của thị trường vốn
Lãi suất ngân hàng dự kiến sẽ còn tiếp tục giảm trong những ngày tới sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước.
Theo ông Nguyễn Hưng, Tổng Giám đốc Ngân hàng TPBank, đợt sóng lãi suất cao vừa qua chỉ mang tính cục bộ trong ngắn hạn. Với sự điều phối và các công cụ chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước, thị trường sẽ sớm ổn định trở lại.
“Trong ngành ngân hàng có tính hệ thống cao, khi một đơn vị đẩy lãi suất lên sẽ tạo hiệu ứng khiến các đơn vị khác phải nâng theo, nhưng về lâu dài, Nhà nước sẽ có những điều chỉnh để bình ổn”, ông Nguyễn Hưng nói.
Cũng theo Tổng Giám đốc TPBank, chính sách tăng trưởng tín dụng năm nay có sự khác biệt là hạn chế đổ vốn vào bất động sản. Do đó, phần lớn nguồn vốn tín dụng sẽ tập trung vào các khu vực sản xuất kinh doanh khác. Vì thế ngân hàng cũng sẽ chú trọng tăng trưởng cho các lĩnh vực ưu tiên và các doanh nghiệp đóng góp trực tiếp vào việc thúc đẩy nền kinh tế trong thời gian tới.
Về mặt bằng lãi suất cho vay, ông Hưng cho rằng với lãi suất huy động hiện đã lên khoảng 8-9%/năm nên lãi suất cho vay đang nằm ở mức 12-13%/năm. Theo quy định, mỗi tháng các ngân hàng phải công khai lãi suất cho vay bình quân của các hợp đồng mới phát sinh trong tháng trước. Đây là con số tổng hợp chung, bao gồm cả lãi suất ngoại tệ và các khoản cho vay ưu đãi (như nhà ở), nên nó phản ánh mức phát sinh thực tế của tháng trước chứ không phản ánh toàn bộ danh mục tín dụng hiện có hay xu hướng riêng biệt của từng sản phẩm.
Theo ông Phạm Như Ánh, Tổng Giám đốc Ngân hàng MB, tăng trưởng tín dụng cao nhưng các ngân hàng vẫn phải đảm bảo an toàn, hiệu quả là phương châm của tất cả các ngân hàng, trong đó có MB. MB lựa chọn những phân khúc khách hàng, những lĩnh vực ưu tiên của NHNN, những phân khúc đảm bảo an toàn cao để tập trung phát triển vào đó, đảm bảo tốc độ an toàn trên bảng cân đối, bảo đảm thu nhập cho ngân hàng, đảm bảo đúng định hướng của Chính phủ và NHNN.
| LÃI SUẤT HUY ĐỘNG TRỰC TUYẾN THEO NIÊM YẾT TẠI CÁC NGÂN HÀNG NGÀY 10/4/2026 (%/NĂM) | ||||||
| NGÂN HÀNG | 1 THÁNG | 3 THÁNG | 6 THÁNG | 9 THÁNG | 12 THÁNG | 18 THÁNG |
| AGRIBANK | 4,75 | 4,75 | 7 | 7 | 7 | 7 |
| BIDV | 4,75 | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| VIETINBANK | 4,75 | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| VIETCOMBANK | 4,75 | 4,75 | 6,6 | 6,6 | 6,8 | 6,8 |
| ABBANK | 3,8 | 4 | 6,3 | 6,3 | 6,3 | 6,3 |
| ACB | 4,75 | 4,75 | 7,1 | 7,2 | 7,3 | |
| BAC A BANK | 4,55 | 4,55 | 7,05 | 7,05 | 7,1 | 7,1 |
| BAOVIETBANK | 4,75 | 4,75 | 6,9 | 6,9 | 7 | 7 |
| BVBANK | 4,75 | 4,75 | 7 | 7 | 7 | 7,2 |
| EXIMBANK | 4,6 | 4,7 | 5,4 | 5,3 | 5,3 | 5,8 |
| GPBANK | 3,9 | 4 | 5,55 | 5,65 | 5,85 | 5,85 |
| HDBANK | 4,2 | 4,3 | 5,5 | 5,3 | 5,8 | 6,1 |
| KIENLONGBANK | 4,4 | 4,4 | 5,7 | 5,4 | 6 | 5,35 |
| LPBANK | 4,7 | 4,75 | 7,3 | 7,3 | 7,4 | 7,1 |
| MB | 4,5 | 4,7 | 5,9 | 5,9 | 6,55 | 6,55 |
| MBV | 4,6 | 4,75 | 7,2 | 7,2 | 7,5 | 7,5 |
| MSB | 4,75 | 4,75 | 6,4 | 6,4 | 6,8 | 6,8 |
| NAM A BANK | 4,6 | 4,75 | 6,3 | 6,3 | 6,4 | 6,3 |
| NCB | 4,7 | 4,75 | 6,4 | 6,4 | 6,6 | 6,8 |
| OCB | 4,75 | 4,75 | 6,7 | 6,7 | 7 | 7,2 |
| PGBANK | 4,75 | 4,75 | 7,1 | 7,1 | 7,2 | 6,8 |
| PVCOMBANK | 4,75 | 4,75 | 5,8 | 5,8 | 6,1 | 6,8 |
| SACOMBANK | 4,75 | 4,75 | 6,8 | 6,8 | 6,8 | 6,8 |
| SAIGONBANK | 4,75 | 4,75 | 6,5 | 6,5 | 6,8 | 7 |
| SCB | 1,6 | 1,9 | 2,9 | 2,9 | 3,7 | 3,9 |
| SEABANK | 3,95 | 4,45 | 5,15 | 5,35 | 5,5 | 5,95 |
| SHB | 4,6 | 4,65 | 6,5 | 6,6 | 6,8 | 7 |
| TECHCOMBANK | 4,35 | 4,75 | 7,05 | 7,05 | 7,25 | 6,35 |
| TPBANK | 4,75 | 4,75 | 6,25 | 6,25 | 6,45 | 6,45 |
| VCBNEO | 4,75 | 4,75 | 7 | 7 | 7 | 7 |
| VIB | 4,75 | 4,75 | 5,7 | 5,8 | 7 | 5,9 |
| VIET A BANK | 4,7 | 4,75 | 6,5 | 6,5 | 6,6 | 6,7 |
| VIETBANK | 4,6 | 4,6 | 6,1 | 6,2 | 6,3 | 6,6 |
| VIKKI BANK | 4,7 | 4,7 | 6,5 | 6,5 | 6,6 | 6,6 |
| VPBANK | 4,75 | 4,75 | 6,1 | 6,1 | 6,3 | 6,3 |
|
Kể từ đầu tháng 4, đã có tới 9 ngân hàng tăng lãi suất huy động, gồm: Viet A Bank, Nam A Bank, BaoViet Bank, ACB, VietinBank, Techcombank, VIB, BVBank, Vietcombank. Trong khi đó, ngân hàng giảm lãi suất cũng là Techcombank và SeABank, VCBNeo. |


